Sự giao thoa giữa cơ chế bảo hộ tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và nhãn hiệu

Tổng quát về khái niệm tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và nhãn hiệu

Có thể bạn quan tâm

Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng

Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được hiểu là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Khái niệm tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.

Theo từ điển Oxford định nghĩa “Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là sự ứng dụng thiết kế, trang trí lên các đồ vật thường ngày để tạo ra các tác phẩm mang tính thẩm mỹ”

Từ điển luật học cũng giải thích về tác phẩm mỹ thuật ứng dụng như sau: “Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng liên quan đến những ứng dụng của thiết kế và/hoặc thẩm mỹ đối với những vật dụng có chức năng. Thuật ngữ này dùng để chỉ những khía cạnh sáng tạo của một vật dụng mang tính thiết thực.  Với lý do này, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng đôi khi được nhắc đến như là một tác phẩm mang tính thiết thực.

   Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 22/2018 hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền lien quan: “Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp như: Thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, hệ thống nhận diện và bao bì sản phẩm), thiết kế thời trang, tạo dáng sản phẩm, thiết kế nội thất, trang trí”

  • Từ những khái niệm nêu trên có thể hiểu khái niệm về tác phẩm mỹ thuật như sau: Tác phẩm mỹ thuật ứng có thể được thể hiện bằng các yếu tố như cấu tạo của các đường nét, màu sắc thể hiện trên một bề mặt sản phẩm hoặc hình dạng của một sản phẩm hoặc sự kết hợp cả hai tính năng đó.

Nhãn hiệu

Theo Wipothì: “Nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hoặc dịch vụ giống hoặc tương tự, được cung cấp bởi các nhà sản xuất hoặc các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau. Nhãn hiệu là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp và được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.”

Còn ở Việt Nam thì nhãn hiệu được quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Như vậy có thể thấy rằng nhãn hiệu mang những đặc điểm sau: Là dấu hiệu nhìn thấy được và có khả năng phân biệt; Được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Các trường hợp giao thoa giữa cơ chế bảo hộ tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và nhãn hiệu

Trường họp đồng nhất về chủ thể quyền tác giả với chủ sở hữu nhãn hiệu

Đây là trường hợp một chủ thể có thể được hưởng đồng thời nhiều phạm vi quyền sở hữu trí tuệ đối với cùng một đối tượng sáng tạo khi chủ thể quyền cùng một lúc yêu cầu nhiều hơn một hình thức bảo hộ cho một đối tượng. Khi một sản phẩm tạo hình được tạo ra, mang tính sáng tạo nguyên gốc, được thể hiện thông qua đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố nêu trên thì có thể được bảo hộ tự động quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng. Đồng thời chủ thể sở hữu có thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nếu đáp ứng được điều kiện có khả năng phân biệt.

Ví dụ, chủ thể quyền đồng thời đăng ký bảo hộ quyền tác giả, nhãn hiệu đối với những yếu tố liên quan đến logo, thiết kế bao bì sản phẩm.

Trường hợp không đồng nhất về chủ thể quyền tác giả và chủ sở hữu nhãn hiệu

Đây là trường hợp hai hay nhiều chủ thể khác nhau cùng được hưởng những phạm vi quyền sở hữu trí tuệ xuất phát từ việc đối tượng sáng tạo của họ thỏa mãn đồng thời tiêu chuẩn bảo hộ của hai hay nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ. Trong những trường hợp này, phạm vi quyền của họ có sự giao thoa, chồng lấn, khó xác định được ranh giới, phạm vi cụ thể. Đây là trường hợp rất phức tạp và thường xảy ra tranh chấp vì cùng một đối tượng lại được bảo hộ bởi hai hay nhiều cơ chế khác nhau cho hai hoặc nhiều chủ thể khác nhau.

Ví dụ cùng một đối tượng nhưng được chủ thể A đăng ký nhãn hiệu, trong khi đó chủ thể C đang nắm giữ quyền tác giả đối tượng đó.

Cơ chế giải quyết tình trạng giao thoa 

Mặc dù tình trạng giao thoa, chồng lấn hai đối tượng nêu trên diễn ra rất phổ biến và ngày càng phức tạp. Tuy nhiên Việt Nam chưa có quy định điều chỉnh để giải quyết các tranh chấp này. Dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, việc giải quyết tranh chấp giữa hai đối tượng này có thể dựa trên cơ sở như sau:

Thứ nhất: Trường hợp chủ sở hữu bản quyền tác giả đã được xác lập quyền trước thời điểm chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký hoặc được bảo hộ.

Khi đã được bảo hộ tác phẩm về mặt bản quyền tác giả thì chủ sở hữu có thể sử dụng Giấy chứng nhận là cơ sở để chứng minh hành vi vi phạm trong trường hợp bản thiết kế đó được bên khác đăng ký nhãn hiệu bằng cách tiến hành phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu (trong trường hợp đơn đang trong quá trình thẩm định) hoặc yêu cầu hủy hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (trên cơ sở người nộp đơn không có quyền nộp đơn). Tuy nhiên việc xử lý bản quyền tác giả đôi khi sẽ không đạt được kết quả tối ưu vì việc cấp Giấy chứng nhận bản quyền tác giả của Cục Bản quyền tác giả hoàn toàn dựa trên việc tự chịu trách nhiệm của chủ thể đăng ký, Cục Bản quyền không thẩm định về mặt nội dung tác phẩm nên đôi khi xảy ra trường hợp nhiều chủ thể khác nhau cùng được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho những tác phẩm không có sự khác biệt đáng kể, thậm chí là giống nhau.

Thứ hai, trường hợp nhãn hiệu được xác lập quyền trước thời điểm chủ thể khác đăng ký quyền tác giả.

Trường hợp này việc xử lý dễ dàng tiến hành hơn do cơ chế cấp bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu là vô cùng chặt chẽ. Việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ dựa trên nguồn dữ liệu các đơn nộp trước, nếu đáp ứng điều kiện có khả năng phân biệt thì mới được cấp quyền sở hữu. Khi đó nếu phát hiện có một đơn vị khác đã được cấp Giấy chứng nhận quyền tác giả sau thì chủ sở hữu nhãn hiệu đó hoàn toàn có quyền yêu cầu Cục bản quyền tác giả hủy hiệu lực Giấy chứng nhận đó.