Nhãn hiệu “quên” đăng ký và những đứa trẻ không được “khai sinh”

Bài viết dưới đây của A&S Law xin được đưa ra một góc nhìn mới về đăng ký nhãn hiệu.

Có thể bạn quan tâm

Theo số liệu thống kê từ Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam, số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp vào Cục năm 2014 lên đến khoảng hơn 33.000 đơn (giai đoạn từ 2007 đến 2012 số lượng đơn nộp dao động ở mốc 21.000 đơn). Thiết nghĩ, dù chưa thật mĩ mãn nhưng đây cũng đã là một con số biết nói phản ánh sự chuyển biến lớn về nhận thức của người Việt Nam đối với việc bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ của mình, đồng thời cho thấy công tác tuyên truyền, giáo dục và khuyến khích của Nhà nước về vấn đến này cũng ít nhiều đạt được những thành tực nhất định.

Vậy tại vì sao mà Nhà nước ta luôn khuyến khích các cá nhân, tổ chức tự  bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ nói chung cũng như tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nói riêng? Phải chăng đăng ký nhãn hiệu nó cũng có những nét tương đồng và quan trọng như việc khai sinh cho một đứa trẻ khi chào đời?

Bạn nghĩ sao nếu một đứa trẻ sinh ra trên đời mà không được khai sinh?

Rất thú vị ở chỗ khai sinh cũng là quyền đầu tiên được ghi nhận trong hệ thống các quyền cơ bản của trẻ em. Tại sao như vậy? Khai sinh cho đứa trẻ – là sự chào đón, ghi nhận có tính pháp lý đầu tiên cho sự ra đời và tồn tại của đứa trẻ trên thế gian này. Quan trọng hơn, thực tế đã chứng minh rằng, nó chính là tiền để quan trọng thậm chí là điều kiện tiên quyết để đứa trẻ được hưởng nhiều quyền khác mà pháp luật Việt Nam nói riêng và lịch sử nhân loại về quyền con người nói chung dành cho nó. Tôi không nói rằng, một đứa trẻ không khai sinh thì không được hưởng quyền con người mà tôi nói đó là tiền đề quan trọng, thậm chí tiên quyết, bởi vì sao? Một đứa trẻ dù không được khai sinh cũng không ai dám tước đi quyền sống của nó, đứa trẻ ấy vẫn có thể sống trong tình yêu thương của cha, bằng nguồn sữa ngọt lành của mẹ mà lớn lên. Và nó vẫn được hưởng đầy đủ các quyền trẻ em như mọi đứa trẻ khác.

Nhưng đó là về mặt lý thuyết, thực tế bạn có thấy có đứa trẻ nào có thể đến trường để hưởng cái quyền học tập (không đề cập đến các trường không thuộc hệ thống giáo dục chính quy) mà không có giấy khai sinh? Đứa trẻ nào có thể được tiêm phòng vắc xin, nằm viện miễn phí để hưởng cái quyền chăm sóc nếu không có giấy khai sinh…

Quay trở lại với câu chuyện về nhãn hiệu mà tôi đang đề cập, Nhà nước rõ ràng không buộc các cá nhân, tổ chức phải tiến hành đăng ký thương hiệu tại Cục sở hữu trí tuệ hay nói cách khác đây không phải một thủ tục bắt buộc. Song việc bạn không đăng ký nhãn hiệu cũng giống như việc một đứa trẻ không được khai sinh vậy, rằng bạn đang tự làm khó chính mình, thậm chí tự mình tước đi cái quyền được pháp luật bảo vệ. Bạn sẽ làm gì khi có những kẻ ngang nhiên “dựa hơi” thương hiệu mà bạn mất hàng chục năm gây dựng để làm lợi bất chính và đáng buồn là thương hiệu là của bạn, nó được người tiêu dùng ghi nhận nhưng lại chưa hề được… nhà nước ghi nhận. Đành rằng, vẫn còn luật chống cạnh tranh không lành mạnh nhưng bằng cách nào để thực hiện quyền này khi mà cách để chứng minh hành vi đó nhanh nhất và hiệu quả nhất là bạn đã tiến hành bảo hộ thương hiệu tại Cục sở hữu trí tuệ – thì bạn cũng chưa làm?

Không dừng lại ở đó, nếu một đứa trẻ không được khai sinh nó suốt đời khó lòng thoát khỏi lũy tre làng bởi những rào cản pháp lý mà nó gặp phải khi xuất – thân – không – rõ – ràng, những nhãn hiệu hàng hóa không được đăng ký bảo hộ cũng vậy, quanh năm suốt tháng cũng chỉ quanh quẩn trong các cửa hàng nhỏ mà khó lòng đặt chân đến những cửa hiệu lớn, những showroom trưng bày sản phẩm sang trọng, vào siêu thị hay xa hơn là xuất khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu đó đến những phương trời mới, những miền đất hứa đầy tiềm năng. Ngược lại, nhãn hiệu hàng hóa khi được tiến hành đăng ký bảo hộ, cũng giống như đứa trẻ được khai sinh, khi ấy nó không những được bảo hộ độc quyền và không đơn thuần chỉ là cái tên gọi mà nó còn là cách hiệu quả để chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa mang nhãn hiệu đăng ký, cung cấp cho người tiêu dùng thông tin rõ ràng về chủ sở hữu cũng như địa chỉ để có được sự tin tưởng từ phía những vị thượng đế này . Trên thực tế, có rất nhiều cơ sở in ấn, các công ty thương mại yêu cầu đối tác phải xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu trước khi ký kết hợp đồng hợp tác. Ngoài ra, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cũng là một loại tài liệu bắt buộc trong một số thủ tục khi muốn lưu thông hàng hóa trên thị trường như thủ tục dán nhãn năng lượng, công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, xuất nhập khẩu hàng hóa qua hải quan…  Tóm lại, dù là đứa trẻ không khai sinh hay nhãn hiệu quên đăng ký thì cũng là một điều ngốc nghếch mà bạn đang thực hiện để tự cản trở con đường phát triển của mình.

Thiết nghĩ, trong thời buổi hiện nay, khi thương trường vốn đã ác liệt như chiến trường, thách thức dường như đã đủ, vậy thì chúng ta cũng đừng nên tự làm khó chính mình thêm nữa.

Bản quyền bài viết thuộc về chuyên viên tư vấn Vũ Thị Liệu, A&S Law

5 (100%) 1 vote
Câu hỏi thường gặp

TRẢ LỜI:

# Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 quy định như sau:

1. TỔ CHỨC, CÁ NHÂN có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.

2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.

3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:

a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;

b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.

6. Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 trên này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.

7. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

TRẢ LỜI:

Hiện nay Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu có thể tự làm hoặc Ủy quyền đăng ký qua Đại Diện Sở Hữu Công Nghiệp

Đại diện sở hữu công nghiệp → Giống như Kiểu Công ty Luật A&S 

Có thể khái quát việc nộp đơn như sau

1. NỘP ĐƠN QUA ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Hồ sơ gồm: 

- GIẤY ỦY QUYỀN CHO ĐẠI DIỆN 

- MẪU ĐƠN (10 MẪU 8X8 CM)

2. TỰ NỘP ĐƠN

CÁ NHÂN HOẶC CÔNG TY LÀ CHỦ ĐƠN 

  1. Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm;
  2. Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu;
  3. Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận
  4. Giấy phép kinh doanh nếu chủ đơn là Công ty (CÁ NHÂN KHÔNG CẦN GIẤY ĐĂNG KÝ KINH DOANH) 

NHÃN HIỆU TẬP THỂ

1. Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận;

2. Bản thuyết minh về tính chất,chất lượng đặc trưng (hoặc đặc thù) của sản phẩm mang nhãn hiệu (nếu nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu tập thể dùng cho sản phẩm có tính chất đặc thù hoặc là nhãn hiệu chứng nhận chất lượng của sản phẩm hoặc là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý);

3. Bản đồ xác định lãnh thổ (nếu nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý của sản phẩm).

4. Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm;

5. Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu;

6. Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận

Trả lời

- Tra cứu thương hiệu độc quyền cơ bản, sơ bộ: Trong dạng này, thời gian tra cứu thương hiệu độc quyền sơ bộ chỉ mất 03 đến 05 tiếng để tra cứu. Tuy nhiên, việc tra cứu này không đảm bảo được chính xác thương hiệu có sự trùng lặp, tương tự hay không vì dữ liệu do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cung cấp trên trang dữ liệu quốc gia đã được cập nhật trước thời điểm tra cứu 03 tháng, tức là tại thời điểm tra cứu thì các đơn mới nộp trong khoảng 03 tháng trở lại đây là chưa được cập nhật trên dữ liệu quốc gia nên không thể tra cứu chính xác 100%.

Link tra cứu miễn phí: 

http://iplib.noip.gov.vn/WebUI/WSearch.php

- Tra cứu thương hiệu độc quyền chi tiết, nâng cao: Trong dạng tra cứu này, độ chính xác đạt cao nhất, được tiến hành bởi các chuyên viên, chuyên gia có kinh nghiệm sẽ đảm bảo tỷ lệ đăng ký thương hiệu độc quyền cao nhất, các chuyên viên, chuyên gia sẽ thẩm định và kiểm tra sự trùng lặp, dễ gây nhầm lẫn để có cở sở điều chỉnh lại thương hiệu sao cho phù hợp nhất.

LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline: +84 972 817 699

PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ 500.000 VNĐ / LẦN TRA CỨU 

Trả lời

CÓ HAI CÁCH NỘP ĐƠN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU

1. NGƯỜI NỘP ĐƠN TỰ NỘP

Bạn có thể nộp đơn trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc thông qua đơn vị đại diện sở hữu trí tuệ nộp đơn đăng ký thương hiệu độc quyền tại một trong ba địa chỉ sau:

- Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại số 384-386, đường Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng: Tầng 3, số 135 đường Minh Mạng, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn.

- Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: số 17 - 19 Tôn Thất Tùng, Tầng 7, tòa nhà Hà Phan, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1.

Lưu ý: Hai văn phòng đại diện chỉ là đơn vị tiếp nhận đơn đăng ký, còn cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định hồ sơ và cấp văn bằng bảo hộ thương hiệu độc quyền chỉ có Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam ở Hà Nội.

2. NỘP ĐƠN THÔNG QUA ĐẠI DIỆN SHCN A&S LAW FIRM

LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline: +84 972 817 699

PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ 500.000 VNĐ / LẦN TRA CỨU →

Trả lời

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ xử lý và giải quyết hồ sơ đăng ký thương hiệu độc quyền với thời gian của từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hình thức đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng 01 tháng đến 03 tháng;

- Giai đoạn công bố đơn hợp lệ là 02 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ;

- Giai đoạn đăng công bố lên Công báo A từ 4-6 tháng từ ngày chấp nhận hình thức đơn

- Giai đoạn thẩm định nội dung đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng từ 14 tháng đến 16 tháng;

Như vậy, tổng thời gian đăng ký thương hiệu độc quyền từ thời điểm nộp hồ sơ đến khi được cấp văn bằng bảo hộ dao động trong khoảng 24 tháng đến 26 tháng theo quy định của pháp luật.

Trả lời

THỜI HẠN CÓ HIỆU LỰC CỦA VĂN BẰNG NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM LÀ 10 NĂM VÀ ĐƯỢC GIA HẠN KHÔNG GIỚI HẠN SỐ LẦN CĂN CỨ

Khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về hiệu lực của văn bằng bảo hộ như sau:

” Giấy chứng nhận nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”.

Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là 10 năm, tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu có thể xin gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm và có thể được bảo hộ mãi mãi nếu được gia hạn đúng hạn. Trong vòng 06 tháng trước ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, chủ sỡ hữu nhãn hiệu phải nộp đơn yêu cầu gia hạn và lệ phí theo quy định cho Cục Sở hữu trí tuệ.

Trả lời

NHÃN HIỆU CÓ THỂ CHUYỂN NHƯỢNG ĐƯỢC

HỒ SƠ CHUYỂN NHƯỢNG GỒM

Chuyển nhượng nhãn hiệu cần các giấy tờ:

Bản gốc của giấy chứng nhận đã đăng ký nhãn hiệu or văn bản bảo hộ; Kèm thêm 2 bản hợp đồng chuyển nhượng đồng thời phải có chữ kỹ từng trang. Mộc đỏ của con dấu " Nếu có "; Thêm vào là giấy ủy quyền từ bên chịu trách nhiệm ký hợp đồng chuyển nhượng / chuyển giao nhãn hiệu theo quy định pháp luật và hợp đồng 2 bên thỏa thuận.

Thời gian hoàn tất việc đăng ký Hợp đồng chuyển nhượng/chuyển giao nhãn hiệu là 06 tháng kể từ ngày nộp đơn.