Lưu ý về quy trình đăng ký sáng chế tại Việt Nam

Đăng ký sáng chế tại Việt Nam là điều cần thiết phải làm nếu doanh nghiệp muốn yên tâm mở rộng phát triển tại quốc gia này.  

Có thể bạn quan tâm

Khi một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu một sáng chế, họ sẽ muốn khai thác tất cả những lợi ích từ sáng chế đó, chủ yếu bằng cách sản xuất hàng loạt sáng chế và bán nó với mục đích thương mại. Tuy nhiên, nếu không có sự bảo hộ của pháp luật, sẽ không có yếu tố gì ngăn cấm các bên khác làm điều tương tự khi họ đã học được công nghệ để tạo ra sáng chế đó.

Theo đó, chủ sở hữu sáng chế, nhà sáng chế cần bảo vệ sáng chế và quyền của họ đối với sáng chế đó bằng cách nộp đơn đăng ký độc quyền sáng chế. Vậy, các lưu ý về quy trình đăng ký sáng chế tại Việt Nam có những điểm gì nổi bật?

Đăng ký sáng chế tại Việt Nam

Thủ tục đăng ký sáng chế tại Việt Nam tuân theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Điều này có nghĩa là nếu có nhiều đơn đăng ký sáng chế nộp cho cùng một đối tượng thì đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam có ngày nộp đơn đầu tiên hoặc ngày ưu tiên sẽ được đăng ký, với điều kiện phải đáp ứng tất cả các yêu cầu khác.

Lưu ý về quy trình đăng ký sáng chế tại Việt Nam
Lưu ý về quy trình đăng ký sáng chế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, do tính chất của loại đơn này, thẩm định viên không thể sử dụng hoặc tham khảo kết quả thẩm định đơn quốc tế hoặc tìm kiếm thông tin về sáng chế trên cơ sở dữ liệu sáng chế nội bộ và bên ngoài.

Quy trình đăng ký sáng chế tại Việt Nam được đánh giá cao vì nó bao gồm nhiều yếu tố khi đánh giá khả năng cấp bằng độc quyền của một sáng chế, chẳng hạn như hệ thống văn bản hướng dẫn toàn diện, ý kiến ​​cá nhân và tính chuyên nghiệp của người thẩm định, và cách tiếp cận tổng thể đối với quy trình đăng ký sáng chế tại Việt Nam,… cùng với các nhân tố khác.

Khi thẩm định hồ sơ, tất cả các yếu tố này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là quyết định cấp bằng sáng chế cho người nộp đơn hay không.

Yêu cầu về đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam

Đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam sẽ có các yêu cầu sau:

  • Mỗi đơn chỉ được yêu cầu một văn bằng bảo hộ.
  • Tất cả các tài liệu của đơn phải được làm bằng tiếng Việt. Đối với tài liệu bằng ngôn ngữ khác theo quy định tại điểm 7.3 và điểm 7.4 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN phải được dịch ra tiếng Việt.
  • Tất cả các tài liệu của đơn phải được trình bày theo chiều dọc trên một mặt của khổ giấy A4 (210mm x 297mm), có lề cả bốn cạnh, mỗi cạnh rộng 20mm, trừ các tài liệu hỗ trợ.
  • Đối với các tài liệu cần chuẩn bị theo mẫu, bắt buộc phải sử dụng các mẫu đó và điền các thông tin cần thiết vào những chỗ thích hợp.
  • Nếu mỗi loại tài liệu bao gồm nhiều hơn một trang, mỗi trang phải được đánh số bằng chữ số Ả Rập.
  • Các tài liệu phải được đánh máy hoặc in bằng mực không thể tẩy xóa, dễ đọc, sạch sẽ, chưa qua tẩy, chưa sửa đổi; Trong trường hợp phát hiện các lỗi chính tả không đáng kể trong các tài liệu nộp cho Cục SHTT, người nộp đơn có thể sửa đổi, bổ sung các lỗi đó.
  • Các thuật ngữ được sử dụng trong đơn phải là các thuật ngữ thông dụng (không sử dụng phương ngữ, từ hiếm và từ tự tạo). Các ký hiệu, đơn vị đo lường, phông chữ điện tử, quy tắc chính tả sử dụng trong đơn phải tuân theo tiêu chuẩn Việt Nam.
  • Đơn có thể được kèm theo một tài liệu hỗ trợ là vật mang dữ liệu điện tử của một phần hoặc toàn bộ nội dung của đơn.
  • Đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về số lượng bản sao tài liệu, mẫu, bản vẽ,…
  • Sáng tạo được đề cập trong đơn phải được phân loại theo Phân loại sáng chế quốc tế.

Yêu cầu đối với sáng chế được cấp bằng độc quyền tại Việt Nam

Sáng chế được bảo hộ khi đáp ứng các điều kiện sau:

Tính mới

Sáng chế được coi là mới nếu nó chưa được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở Việt Nam hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam yêu cầu quyền ưu tiên. Cụ thể, một sáng chế được coi là chưa được bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người hạn chế biết về nó và có nghĩa vụ giữ bí mật về nó.

Sáng chế sẽ không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký đăng ký theo quy định tại Điều 86 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hoặc người có được thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp từ nhà sáng chế tiết lộ thông tin về sáng chế đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong vòng 12 tháng kể từ ngày công bố thông tin.

Bước sáng tạo

Một sáng chế được coi là có một bước sáng tạo nếu nó dựa trên các giải pháp kỹ thuật bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác tại Việt Nam hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam.

Tiêu chuẩn rõ rệt nhất ở bước sáng tạo là nếu những người có kiến ​​thức trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng không thể tạo ra sáng chế đó một cách dễ dàng.

Giải pháp kỹ thuật là sáng chế được công bố theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 60 của Luật SHTT Việt Nam không được dùng làm căn cứ để đánh giá bước sáng tạo của sáng chế đó.

Khả năng áp dụng công nghiệp

Sáng chế được coi là có thể áp dụng công nghiệp nếu có thể chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình mà sáng chế có liên quan, dẫn đến kết quả ổn định.

Đối tượng không được bảo vệ

Theo luật sở hữu trí tuệ, các đối tượng sau đây không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế:

  • Các lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
  • Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện thú cưng, biểu diễn trò chơi, kinh doanh; Chương trình máy tính;
  • Cách thức trình bày thông tin;
  • Giải pháp chỉ mang tính thẩm mỹ;
  • Giống cây trồng, vật nuôi;
  • Quá trình sản xuất của cây trồng, vật nuôi chủ yếu mang bản chất sinh học, không phải là quá trình vi sinh;
  • Phương pháp phòng, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

Hiệu lực bảo hộ của bằng sáng chế tại Việt Nam

Bằng độc quyền sáng chế tại Việt Nam sẽ có 20 năm bảo hộ kể từ ngày nộp đơn. Sau khi hết thời hạn bảo hộ, người được cấp bằng sáng chế sẽ không có quyền độc quyền đối với bằng sáng chế nữa.

Đối với giải pháp hữu ích, người được cấp bằng sáng chế sẽ có 10 năm bảo hộ khỏi các hành vi xâm phạm, tính từ ngày nộp đơn.

Để duy trì hiệu lực của bằng độc quyền, người được cấp bằng phải trả phí duy trì hàng năm sau khi bằng sáng chế được cấp.

Thủ tục đăng ký sáng chế tại Việt Nam

Để được cấp bằng độc quyền sáng chế tại Việt Nam, người nộp đơn cần nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam cho Cục SHTT Việt Nam.

Sau đó, đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam sẽ trải qua quá trình thẩm định hình thức để kiểm tra xem nó có phù hợp với các yêu cầu của pháp luật hay không và nó có thể được cấp bằng sáng chế hay không.

Nếu không có vấn đề gì, đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam sẽ được đăng trên Công báo của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong thời hạn 19 tháng.

Sau khi công bố, trong vòng 12-18 tháng, Cục SHTT sẽ tiến hành thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam.

Trường hợp sáng chế đủ điều kiện bảo hộ, Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký sáng chế trong thời hạn 01 tháng.

Thủ tục đăng ký sáng chế quốc gia

Thủ tục đăng ký sáng chế quốc gia tại Việt Nam có thể được thực hiện theo một trong hai phương thức:

  • Đăng ký trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ (NOIP);
  • Đăng ký thông qua Đại diện Sở hữu Trí tuệ (Đây là thủ tục bắt buộc đối với những người đăng ký sáng chế tại Việt Nam mà không có quốc tịch người Việt Nam)

Thủ tục đăng ký sáng chế quốc tế

Đăng ký sáng chế có bản chất lãnh thổ. Điều đó có nghĩa là sáng chế được đăng ký ở bất kỳ quốc gia nào sẽ được bảo hộ độc quyền tại quốc gia đó. Tuy nhiên, nếu người nộp đơn muốn được bảo hộ sáng chế ở một quốc gia khác thì người nộp đơn đăng ký sáng chế cần phải tiến hành đăng ký sáng chế quốc tế cho quốc gia mà mình muốn bảo hộ.

Các phương thức đăng ký sáng chế quốc tế bao gồm:

  • Đăng ký sáng chế ở các quốc gia khác dựa trên Công ước Paris. Theo đó, người nộp đơn có quyền yêu cầu quyền ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế tại quốc gia khác. Thời hạn nộp đơn đăng ký sáng chế theo Công ước Paris là 12 tháng kể từ ngày nộp đơn.
  • Đăng ký sáng chế theo PCT. Đây là cách tối ưu để đảm bảo người nộp đơn có đủ thời gian cân nhắc nộp đơn đến một quốc gia khác thực sự mang lại cơ hội kinh doanh cho người nộp đơn. Thời gian chờ đợi để nhập giai đoạn quốc gia của mỗi quốc gia sẽ từ 30-34 tháng, tùy thuộc vào quốc gia đăng ký.

 

Rate this post

Rate this post

Liên hệ Luật sư Sở hữu trí tuệ để được đăng ký nhãn hiệu

    Leave a Reply

    Your email address will not be published.