Thuế đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu

Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản vô hình của người hoặc công ty thực hiện hoặc sản xuất và là một trong các đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ, nhưng tùy theo luật ở mỗi quốc gia, nhãn hiệu cần đăng ký để trở thành thương hiệu được bảo hộ theo luật định (Registered Trademark: “Thương hiệu đã đăng ký” hay là “nhãn hiệu cầu chứng”).

Có thể bạn quan tâm

1. Khái niệm nhãn hiệu và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu

a) Nhãn hiệu

Nhãn hiệu hàng hóa hay nhãn hàng được định nghĩa như sau: là những dấu hiệu dùng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh, biểu trưng hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

b) Chuyển nhượng nhãn hiệu

Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.

Việc cho phép bên Việt Nam sử dụng nhãn hiệu kèm việc thu tiền chuyển quyền sử dụng của bên nước ngoài là hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu nhưng không là hoạt động chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ.

2. Thuế trong hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu

Doanh nghiệp nước ngoài có phát sinh thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu áp dụng các chính sách thuế sau:

– Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Tỷ lệ (%) thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế là 10% (xem Khoản 3 Điều 7 và Điểm a Khoản 2 Điều 13 Thông tư 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính).

– Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Thuế suất là 10% (theo phương pháp khấu trừ) hoặc tỷ lệ (%) thuế  GTGT tính trên doanh thu tính thuế là 5% (theo phương pháp trực tiếp).

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *