5 quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc

Việt Nam đang ngày một vững bước trong quá trình hội nhập. Việc đáp ứng được các quy định về thương mại, quyền sở hữu trí tuệ,… của các nước cũng như các tổ chức quốc tế là một điều cần thiết. Trong đó, một điều kiện không thể thiếu trong hội nhập quốc tế về thương mại đó chính là bảo hộ quyền tác giả. Bài viết này sẽ trình bày về số quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc.

Có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý

Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, những ý tưởng về bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc đã được ghi nhận và được khẳng định đầy đủ trong bản Hiến pháp hiện hành năm 1992, Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 14.11.1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 142/HĐBT qui định về quyền tác giả.

  • Nghị định số 60/CP ngày 6.06.1997 của Chính phủ huớng dẫn thi hnàh một số quy định về quyền tác giả trong Bộ Luật Dân Sự
  • Bộ Luật Dân Sự và khoản 8 điều 4 nghị định 76/CP ngày 29.11.1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số qui định về quyền tác giả trong Bộ Luật Dân Sự
  • Điều 766 Bộ Luật Dân Sự “Các quyền nhân thân của tác giả quy định tại điểm a, b và đ Khoản 2 Điều 751; Khoản 1 Điều 752

Một số qui định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc

Trong các loại hình tác phẩm được nhà nước bảo hộ thì tác phẩm kiến trúc thuộc một loại hình có đặc thù khác hẳn so với cácloại hình tác phẩm khác.

Tác giả, tác phẩm, quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc

Tác phẩm kiến trúc là một trong các loại hình tác phẩm được bảo, là các bản vẽ thiết kế thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian đã hoặc chưa xây dựng”. Tác phẩm được bảo hộ phải là bản gốc, tức là bản đầu tiên của tác phẩm do tác giả sáng tạo ra.

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Nếu có nhiều người cùng sáng tạo tác phẩm thì họ là đồng tác giả tác phẩm đó. Chủ sở hữu tác phẩm là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu các quyền của tác giả có thể chuyển giao được theo quy định của pháp luật.

Quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc đối với tác phẩm kiến trúc phát sinh từ thời điểm tác phẩm sáng tạo được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, và không phân biệt tác phẩm đã công bố hoặc chưa công bố, đã đăng ký bảo hộ hoặc chưa đăng ký bảo hộ.

5 Quy Dinh Cua Phap Luat Viet Nam Ve Quyen Tac Gia Trong Linh Vuc Kien Truc
5 quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc

Quyền lợi của tác giả tác phẩm kiến trúc

Tác giả của tác phẩm kiến trúc được hưởng các quyền cơ bản:

  • Quyền nhân thân như quyền đặt tên cho tác phẩm
  • Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm
  • Quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố phổ biến
  • Quyền cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình.

Chủ sở hữu tác phẩm được hưởng các quyền nhân thân đối với tác phẩm bao gồm công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố phổ biến tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thoả thuận khác; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thoả thuận khác.

Giới hạn quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc

Quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc yêu cầu các cá nhân tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã được công bố, phổ biến.

Nếu với tác phẩm nào không bị cấm sao chụp, bên thứ 3 có sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm thì bên thứ 3 có thể sử dụng tác phẩm màn không phải xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm nhưng phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm.

Đối với các tác phẩm kiến trúc không cho phép sao lại tác phẩm để dùng riêng nhưng nếu chụp ảnh, truyền hình, giới thiệu hình ảnh của tác phẩm kiến trúc trưng bày ở nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó thì sẽ được sử dụng không phải xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm.

Quyen Tac Gia Tac Pham Kien Truc
Quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc

Thời gian bảo hộ quyền tác giả

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc là bảo hộ vô thời hạn; các quyền nhân thân được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết.

Các chế tài dân sự, hành chính, hình sự:

+ Chế tài dân sự: Điều 759 Bộ Luật Dân Sự quy định “Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khi bị người khác xâm phạm quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm, có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người đó phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại”.

+ Chế tài hành chính: Điều 13 (khoản 3) quy định “Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với những vi phạm hành chính có nhiều tình tiét năngj trong các lĩnh vưc văn hoá, thông tin…”

+ Chế tài hình sự: Điều 141 Bộ Luật Hình Sự quy định tội xâm phạm quyền tác giả, gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Một số bình luận về quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc

Nhà nước bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc khi nó là các bản vẽ thiết kế thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian đã hoặc chưa xây dựng. Xung quanh vấn đề này đã có rất nhiều tranh luận khác nhau. Trong đó có 2 trường phái chủ yếu:

  •  Nhà nước bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc bao gồm 2 loại:

(1) Các bản vẽ thiết kế thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian đã xây dựng.

(2) Các bản vẽ thiết kế thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian chưa xây dựng.

Câu hỏi đặt ra là nhà nước có thể bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc đối với các tác phẩm kiến trúc trong các trường hợp một ngôi nhà, một công trình xây dựng không còn là ý tưởng của tác giả thể hiện trên bản vẽ trên mặt giấy mà đã trở thành một vật thể hữu hình mà chúng ta có thể nhìn ngắm hay không?

Khi chủ sở hữu trong quá trình sử dụng cải tạo lại của ngôi nhà đó, công trình đó theo sở thích của riêng họ thì hành vi của họ có được coi là xâm phạm quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc hay không?

Rõ ràng là trên thực tế, chủ sở hữu hoàn toàn có quyền quyết định đối vật sở hữu của họ và đương nhiên hành vi của họ là đúng luật và khi đó tác giả không thể kiện chủ sở hữu xâm phạm quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc đối với công trình đó cho dù thực tế là việc thể hiên bản vẽ tác phẩm kiến trúc của họ đã bị sửa đổi.

  •  Nhà nước bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc đối với các bản vẽ thiết kế thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian không phụ thuộc bản vẽ đó đã hoặc chưa được xây dựng

Điều này tức là, nhà nước chỉ bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúccho các bản vẽ thiết kế… chứ không bảo hộ cho cả công trình đã xây.

Theo điều 6 nghị định 76/CP, quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúcđối với tác phẩm kiến trúc phát sinh từ thời điểm tác phẩm sáng tạo được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt tác phẩm đã công bố hoặc chưa công bố, đã đăng ký bảo hộ hoặc chưa đăng ký bảo hộ.

Trên đây là một số quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc. Hy vọng bài viết sẽ mang tới một thông tin hữu ích giúp các chủ sở hữu hiểu hơn về vẫn đề pháp lý trong việc đăng ký bản quyền tác giả cho tác phẩm của mình.

Rate this post

Rate this post

Liên hệ Luật sư Sở hữu trí tuệ để được đăng ký nhãn hiệu

    Leave a Reply

    Your email address will not be published.