Điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ

Điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ. Để được bảo hộ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, một nhãn hiệu phải đáp ứng những điều kiện gì ?

Có thể bạn quan tâm

Căn cứ Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:

“Điều 72. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1.Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

2.Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.”

Như vậy, có thể thấy những điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ ở Việt Nam bị hạn chế so với quy định pháp luật thế giới. Pháp luật nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận các yếu tố hiện đại được bảo hộ là nhãn hiệu như âm thanh, mùi vị,… : Liên minh châu Âu cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi cỏ tươi mới cát cho bóng tennis, Mỹ cho phép Metro-Goldwin-Mayer Lion corporation đăng ký dấu hiệu âm thanh PRELUDE cho các nhóm mặt hàng thiết bị chăm sóc sức khỏe , máy ghi âm, ghi hình, máy bán hàng tự động,…  Nhưng tại Việt Nam, các dấu hiệu âm thanh, mùi vị, hương thơm,… chưa được công nhận là dấu hiệu bảo hộ là nhãn hiệu trong pháp luật Việt Nam.

      1.Điều kiện về dấu hiệu

Một trong các điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam là điều kiện về dấu hiệu:

  • Dấu hiệu phải nhìn thấy được: nghĩa là con người có thể cảm nhận được, nắm bắt được qua khả năng thị giác.
  • Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu theo quy định cụ thế tại Luật SHTT, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật SHTT và thông tư số 01/2007/BKHCN bao gồm:
  • Dấu hiệu là chữ cái, chữ số:
  • Dấu hiệu từ ngữ
  • Dấu hiệu hình vẽ
  • Dấu hiệu hình ảnh, kể cả hình ảnh ba chiều
  • Dấu hiệu kết hợp các yếu tố trên

Một số dấu hiệu đặc biệt không được bảo hộ làm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam như: Màu sắc đơn lẻ; Các dấu hiệu tính giác; Các dấu hiệu khứu giác; Các dấu hiệu khác ( ví dụ: dấu hiệu xúc giác,…). 

       2. Điều kiện về khả năng phân biệt:

Điều kiện thứ hai  để nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam là điều kiện về khả năng phân biệt:

Yêu cầu về khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu: là khi nhãn hiệu đó giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng hóa dịch vụ của một chủ thể kinh doanh với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Nhãn hiệu không có khả năng phân biệt nều thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 74.

Đánh giá của bạn về bài viết