Quy định về quyền tác giả tại Việt Nam

Tại Việt Nam, quyền tác giả được chia thành quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 18 Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ). Bài viết sau sẽ chỉ rõ các quy định về quyền tác giả tại Việt Nam.

Để đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế sau khi gia nhập các Hiệp định thương mại thế hệ mới gồm CPTPP, EVFTA và RCEP, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung khá nhiều quy định liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan trong Luật SHTT 2005 sửa đổi lần 3 vừa được Quốc Hội thông qua ngày 16/6/2022 thay thế Luật SHTT 2005 sửa đổi lần 1 năm 2009 và lần 2 năm 2019.

Luật SHTT sửa đổi lần 3 có hiệu lực từ 1/1/2023 ngoại trừ quy định về nhãn hiệu âm thanh có hiệu lực từ 14/01/2022 và quy định về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm dùng cho nông hóa phẩm có hiệu lực từ 14/01/2024.

Quyền tác giả tại Việt Nam

Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Quyền nhân thân

Quyền nhân thân bao gồm các quyền:

  • Đặt tên cho tác phẩm;
  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Công bốtác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm (Có quyền nhân thân nhưng không có quyền tài sản) có các quyền nhân thân đối với tác phẩm mà mình sáng tạo gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung của tác phẩm.

Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả (Có quyền tài sản nhưng không có quyền nhân thân) có các quyền nhân thân đối với tác phẩm gồm: công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thảo thuận khác; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thoả thuận khác.

Quyền tài sản

Quyền tài sản bao gồm các quyền:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm (Có cả quyền nhân thân và quyền tài sản) có quyền đối với tác phẩm bao gồm: được hưởng nhuận bút; được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như xuất bản, tái bản, trưng bày, truyển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê; được nhận giải thuởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả.

Tác giả không phải là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản đối với tác phẩm bao gồm: được hưởng nhuận bút; được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; được nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả.

Chủ sở hữu tác phẩm không phải là tác giả có quyền hưởng lợi ích vật chất từ việc sử dụng tác phẩm dưới các hình thức xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê.

Quy định về bảo hộ quyền tác giả

Khác với các quyền sở hữu trí tuệ khác như nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng,…, quyền tác giả tại VIệt Nam không cần được đăng ký để bảo hộ mà sẽ được tự động bảo hộ kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Theo đó, dù đăng ký hay không đăng ký thì quyền tác giả của tác giả đối với tác phẩm vẫn sẽ được bảo hộ. Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả hay đăng ký bản quyền vẫn được khuyên thực hiện bởi lẽ việc đăng ký sớm sẽ giúp cho tác giả/chủ sở hữu tác phẩm có nhiều lợi thế khi tranh chấp xảy ra.

Khi những hành vi sử dụng trái phép tác phẩm xảy ra trên phạm vi toàn thế giới, chủ sở hữu tác phẩm khi đã đăng ký bản quyền từ trước sẽ không phải tốn thời gian cũng như phức tạp hóa vấn đề với việc chứng minh mình là chủ sở hữu tác phẩm.

Qua đó, để tránh thụ động thì chủ sở hữu tác phẩm nên đăng ký bản quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có sự xâm phạm.

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả không phải là quyền có thời hạn vĩnh cửu (vô thời hạn). Các quyền độc quyền mà pháp luật đảm bảo cho chủ sở hữu sẽ chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian xác định ngoại trừ quyền nhân thân.

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là khoảng thời gian mà quyền tác giả đối với tác phẩm còn hiệu lực trên thế giới. Trong khoảng thời gian này, chủ sở hữu tác phẩm sẽ có quyền thu được những lợi ích vật chất và tinh thần một cách hợp pháp từ việc khai thác tác phẩm.

Việc khai thác tác phẩm có thể được thể hiện dưới hình thức cho thuê tác phẩm, chuyển nhượng quyền sử dụng tác phẩm, cho phép chuyển thể tác phẩm,…

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, công ước quốc tế được tạo nên xét trên khoảng thời gian đủ để tác giả có thể khai thác được tác phẩm do mình sáng tạo ra.

Theo công ước Berne mà Việt Nam là một bên kí kết thì thời hạn tối thiểu mà quyền tác giả được bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời (chỉ đối với tác phẩm văn học – nghệ thuật).

Các quốc gia không phải là một bên kí kết công ước Berne hoặc là một thành viên nhưng chưa thay đổi luật pháp quốc gia tương ứng với công ước quốc tế sẽ có thể có thời hạn quy định ngắn hơn hoặc dài hơn.

Theo Điều 27 Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân bao gồm quyền: Đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; được bảo hộ vô thời hạn.

Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm trong quyền nhân thân và quyền tài sản sẽ có thời hạn bảo hộ là:

– Đối với tác phẩm di cảo: thời hạn bảo hộ là 50 năm kể tính từ ngày đầu tiên tác phẩm được công bố.

– Đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, điện ảnh, tác phẩm khuyết danh: thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu. Đối với trường hợp tác phẩm chưa được công bố trong thời hạn là 25 năm kể từ khi tác phẩm được hình thành thì thời hạn bảo hộ là 100 năm.

– Đối với các loại hình tác phẩm còn lại (văn học – nghệ thuật): thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời. Trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

– Năm tính trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả được tính như sau: thời hạn bảo hộ sẽ chấm dứt vào 24h ngày 31 tháng 12 năm cuối cùng của thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo quy định.

Sau khi chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu tác phẩm sẽ thuộc về cộng đồng.

Điều đó có nghĩa là tác phẩm sẽ trở thành tài sản chung của xã hội và bất kì ai cũng có thể sử dụng tác phẩm đó vào mục đích cá nhân một cách hợp pháp mà không bị ngăn cản bởi bất kỳ một chế định pháp luật nào.

Tuy nhiên, việc sử dụng tác phẩm cũng phải đi kèm với điều kiện bảo hộ tính toàn vẹn của tác phẩm. Theo đó, người sử dụng không được làm mất đi bản chất của tác phẩm và không ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của tác giả, đồng thời phải thể hiện rõ tên của tác giả trong tác phẩm của mình.

 

 

Rate this post

Có thể bạn quan tâm

Rate this post

Liên hệ Luật sư Sở hữu trí tuệ để được đăng ký nhãn hiệu

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *