Sunday, April 30, 2017

patents-banner

Tranh chấp về việc bảo hộ sáng chế dành cho dược phẩm giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ (1996)

tranh chapTranh chấp về việc bảo hộ sáng chế dành cho dược phẩm giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ (1996) là một trong những tranh chấp có ảnh hưởng lớn nhất tới luật sở hữu trí tuệ Thế Giới.

Tranh chấp này liên quan đến một đơn kiện từ Hoa Kỳ rằng Ấn Độ không thiết lập cơ chế “hộp thư” để nhận đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế theo như yêu cầu của Điều 70.8 Hiệp định TRIPS và rằng Ấn Độ đã không dành độc quyền tiếp thị như yêu cầu của Điều 70.9. Cơ chế hộp thư được dành cho các nước đang phát triển trong giai đoạn chuyển tiếp, trước khi các nghĩa vụ mang tính nội dung về sáng chế của Hiệp định TRIPS có hiệu lực ở những nước này. Khi đặt ra các tiêu chuẩn áp dụng cho việc giải thích Hiệp định TRIPS, Ban bồi thẩm đã cố gắng áp dụng các nguyên tắc giải thích theo tập quán của công pháp quốc tế như được quy định trong Công ước Viên. Ban bồi thẩm đã phán quyết rằng việc giải thích đúng đắn Hiệp định TRIPS đòi hỏi “bảo vệ những mong muốn chính đáng xuất phát từ sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” .

Ngoài ra, Ban bồi thẩm lưu ý rằng vì Hiệp định TRIPS là một trong số những Hiệp định Thương mại Đa phương được đàm phán trong khuôn khổ GATT 1947 nên Hiệp định này có giá trị ràng buộc các thành viên của GATT, những nước cũng đã thừa nhận nguyên tắc về sự mong muốn chính đáng.  Điểm (a) Điều 70.8 Hiệp định TRIPS yêu cầu rằng nếu đến thời điểm Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực, một Thành viên chưa quy định việc bảo hộ sáng chế cho dược phẩm và các sản phẩm hoá nông thì thành viên đó phải quy định phương thức nộp đơn yêu cấp bằng độc quyền sáng chế cho các sáng chế đó. Khi giải thích điểm này, Ban bồi thẩm đã tuyên bố rằng “giống như các quy định khác của hiệp định, quy định này phải được giải thích phù hợp với (i) nghĩa thông thường của các thuật ngữ này; (ii) ngữ cảnh; và (iii) mục tiêu và mục đích của quy định này, theo các quy tắc được quy định tại Điều 31 của Công ước Viên

Ban bồi thẩm cho rằng nghĩa thông thường của Điều 70.8(a) là dự tính thiết lập một cơ chế cho phép nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế có liên quan và  xác định việc nộp đơn và ngày ưu tiên “để có thể bảo đảm tính mới của sáng chế có liên quan và ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền cho sáng chế đó nhằm mục đích xác định khả năng cấp bằng độc quyền sáng chế cho sáng chế đó tại  thời điểm có quy định về việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho sản phẩm đối với các sáng chế này.” Ban bồi thẩm cho rằng kết luận này đã được khẳng định bởi lịch sử đàm phán Hiệp định TRIPS, “theo đó việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho dược phẩm và các sản phẩm hoá chất nông nghiệp là một vấn đề then chốt”.

Ngoài ra, Ban bồi thẩm lưu ý rằng các nước cũng phải dành độc quyền tiếp thị cho các sản phẩm nêu trên, nếu các sản phẩm này được phép tiếp thị trong giai đoạn chuyển tiếp. Cuối cùng, áp dụng luật học GATT liên quan đến các dự định pháp lý, Ban bồi thẩm thấy rằng “tính có thể dự đoán trong chế định sở hữu trí tuệ thực sự là cần thiết đối với công dân của các Thành viên WTO khi họ đưa ra các quyết định về thương mại và đầu tư trong quá trình kinh doanh của mình”.

Do vậy, Ban bồi thẩm đã kết luận rằng Ấn Độ đã không thực hiện Điều 70.8(a) khi không sửa đổi luật sáng chế của mình để cho phép nộp đơn theo cơ chế hộp thư để được cấp bằng độc quyền sáng chế sau khi kết thúc thời hạn chuyển tiếp dành cho các nước đang phát triển. Ban bồi thẩm cũng kết luận rằng thực tiễn quản lý không được công bố về việc nhận đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế không  đáp ứng các nghĩa vụ theo quy định của Hiệp định TRIPS. Hội đồng giải quyết khiếu nại đã không nhất trí với kết luận về những mong muốn chính đáng từ các Báo cáo của Ban bồi thẩm GATT 1947 trước đó. Hội đồng cho rằng vì nguyên tắc về sự mong muốn chính đáng đã được phát triển trong bối cảnh của các đơn kiện về sự không vi phạm nên không phù hợp để được áp dụng trong bối cảnh xử lý các trường hợp vi phạm theo Hiệp định TRIPS. Hội đồng giải quyết khiếu nại cũng bác bỏ việc gộp các mong muốn chính đáng vào nguyên tắc về “sự giải thích thiện ý” của Công ước Viên, vì điều đó dẫn đến việc quy cho các từ ngữ và khái niệm trong Hiệp định TRIPS những nghĩa không theo dự định như vậy. Hội đồng giải quyết khiếu nại đã phê phán ban bồi thẩm về việc tạo ra “nguyên tắc giải thích của riêng mình không phù hợp với các quy tắc giải thích theo tập quán của công pháp quốc tế cũng như thực tiễn đã có của GATT/WTO”. Hội đồng tuyên bố rằng cả ban bồi thẩm và Hội đồng giải quyết khiếu nại đều phải tuân theo các quy tắc giải thích điều ước được quy định tại Công ước Viên và không được bổ sung hay loại bỏ các quyền hoặc nghĩa vụ được quy định trong Hiệp định WTO”

Hội đồng giải quyết khiếu nại đã xem xét vấn đề thế nào là cơ chế được dự định tại Điều 70.8(a) dành cho việc nộp đơn vào hộp thư. Áp dụng các quy tắc giải thích từ Công ước Viên, Hội đồng tìm cách giải đáp câu hỏi này bằng cách xem xét cách hành văn của quy định này và “phù hợp với mục tiêu và mục đích của Hiệp định TRIPS”. Vì mục tiêu của Hiệp định TRIPS bao gồm “sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện quyền sở hữu trí tuệ”, Hội đồng giải quyết khiếu nại đã đồng ý với Ban bồi thẩm rằng cơ chế được thiết lập theo Điều 70.8(a) phải tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm tính mới và quyền ưu tiên. Hội đồng đã kết luận rằng vì các hướng dẫn hành chính là cơ sở của hệ thống hộp thư của Ấn Độ bị phủ nhận bởi các quy định mang tính bắt buộc của Luật sáng chế Ấn Độ, Ấn Độ đã không tuân thủ Điều 70.8(a). Tương tự, vì Ấn Độ không ban hành quy định về độc quyền tiếp thị theo như yêu cầu tại Điều 70.9, Hội đồng giải quyết khiếu nại đã đồng ý rằng Ấn Độ cũng vi phạm quy định này. 

Để đươc tư vấn về sở hữu trí tuệ, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

CÔNG TY TƯ VẤN A&S

Địa Chỉ: Phòng 1704, tầng 17, toàn nhà Đa năng 169 Nguyễn Ngọc Vũ, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội

Email: baohologo@gmail.com

Fax: (84) 4 35551315

Hotline: 0914195266

 

 

logo AS

Brown Blue Orange